SKĐS – Tình trạng hàm lượng dinh dưỡng cho là khẩu phần ăn hàng hàng đủ hay không đủ, nếu khẩu phần ăn đủ so với nhu cầu của cơ thể thì tình trạng hàm lượng dinh dưỡng phát triển rất tốt, nếu khẩu phần ăn không đủ so với nhu cầu thì cơ thể phản ứng nhanh nhất là cân nặng hạn chế, khẩu phần ăn đều đặn không đủ so với nhu cầu sẽ dẫn tới suy hàm lượng dinh dưỡng trường diễn.

Con tôi 17 tuổi cân nặng 60kg, cao 1,7m. Cháu rất lười ăn. Buổi sáng chỉ uống 1 cốc sữa và ngũ cốc, buổi trưa ăn non 2 lưng bát cơm cùng với thịt, rau, buổi chiều cũng vậy. Cháu không ăn rất nhiều thịt. Cả ngày chỉ ăn từ 1-1,5 lạng thịt lợn sấn, dưa hấu 100g/ngày, 2 cốc sữa sáng và tối (400 ml), rau muống 300g. Cháu ăn như vậy đã đủ calo chưa (1 tuần cháu đi đã bóng hoặc bơi lội khoảng 3 buổi).

(Lê Văn T. – Bà Rịa – Vũng Tàu)

Tình trạng hàm lượng dinh dưỡng cho là khẩu phần ăn hàng hàng đủ hay không đủ, nếu khẩu phần ăn đủ so với nhu cầu của cơ thể thì tình trạng hàm lượng dinh dưỡng phát triển rất tốt, nếu khẩu phần ăn không đủ so với nhu cầu thì cơ thể phản ứng nhanh nhất là cân nặng hạn chế, khẩu phần ăn đều đặn không đủ so với nhu cầu sẽ dẫn tới suy hàm lượng dinh dưỡng trường diễn.

khau phan an

Từ các giới thiệu về: tuổi, chiều cao, cân nặng, giới tính ta có biết được tình trạng hàm lượng dinh dưỡng cũng như nhu cầu về khẩu phần ăn của trẻ. Để cho là khẩu phần của trẻ có uy tín với nhu cầu mỗi ngày hay không, chúng ta có 2 cách là thông qua cho là tình trạng hàm lượng dinh dưỡng và khẩu phần ăn (dựa vào mức sử dụng lương thực thực phẩm của cá thể trong 24h qua). Cách cho là hai chỉ đó như sau:

  • Về tình trạng hàm lượng dinh dưỡng: Để cho là về tình trạng hàm lượng dinh dưỡng, để xác định trẻ phát triển rất tốt, gầy hay thừa cân, ta dựa cùng công thức tính chỉ số khối cơ thể BMI, BMI được tính bằng cân nặng (tính cùng kg) chia cho chiều cao bình phương (chiều cao tính cùng m). Nếu BMI dưới 18,5 là không đủ sức lực trường diễn, BMI từ 18,5 đến 24,9 là bình thường, BMI bằng hoặc trên 25 là thừa cân và bằng hoặc trên 30 là béo phì.

Qua cách tính trên, kết quả trẻ có BMI là 20.76, điều đó khẳng định trẻ có khả năng trạng rất tốt (từ 18,5 đến 24,9) không gầy, không béo. Từ kết quả, ta thấy khẩu phần ăn mỗi ngày của trẻ đã trải qua đủ nhu cầu cho sự phát triển.

  • Về khẩu phần ăn: Theo nhu cầu hàm lượng dinh dưỡng khuyến nghị dành cho người Việt Nam, thì nhu cầu về khẩu phần ăn mỗi ngày của trẻ như sau: sức lực là 2.634 Kcal (đã có sức lực chuyển hóa cơ bản và sức lực phục vụ cho lao động), trong đó sức lực từ ngữ cốc cung cấp 68%, các chất béo cung cấp 18% và các chất đạm cung cấp 14% tổng nhu cầu sức lực trong khẩu phần.

Để cho là được khẩu phần ăn, chúng ta dựa vào mức sử dụng lương thực thực phẩm củ trong 24 giờ qua của trẻ, dựa vào bảng hàm lượng hóa học thức ăn Việt Nam (với lương thực thực phẩm sử dụng là sống sạch). Dựa vào giới thiệu trên, khẩu phần ăn mỗi ngày của cháu được tính như sau:

Tên LTTP/ ĐV tính 100g

Số lượng (g)

Gluxit (g)

Protein (g)

Lipit (g)

Năng lượng (Kcal)

Gạo tẻ (100g/bữa)

200

151.8

15.80

2.0

688

Thịt lợn sấn

125

0

20.63

26.88

325

Rau muống

300

2.1

9.60

1.2

75

Dưa hấu

100

2.3

1.20

0.2

16

Bánh mì

54

28.4

4.30

0.4

135

Sữa tươi 200 ml/cốc

400 ml

19.2

15.60

17.6

296

Tổng số

203.8

67.13

48.28

1535

Qua kết quả tính, thì khẩu phần ăn mỗi ngày của cháu như sau: Năng lượng mà cháu ăn một ngày là 1.535 Kcal, sức lực do glucid cung cấp 53%, sức lực do chất đạm cung cấp chiếm 18% và do lipid cung cấp chiếm 28% so với sức lực tổng số (sức lực do glucid chiếm 53% không đủ 15%, sức lực do chất đạm và chất béo vượt quá nhu cầu là 14% và 18%).

Từ kết quả trên so với nhu cầu mỗi ngày thì lượng lương thực phẩm sử dụng của cháu chưa đủ, điều đó thể hiện ở sức lực ăn vào mới trải qua 58% so với nhu cầu. Thông thường, nếu ăn đủ về sức lực, người ta mới tính về tính cân đối của khẩu phần (tỷ lệ G; L; P) và giá trị các chất hàm lượng dinh dưỡng như: tỷ lệ Đạm ĐV/đạm TV, Lipit ĐT/Lipit TV, can xi/phốt pho. Nhưng qua bữa ăn của trẻ, dựa vào lượng glucid, lipid, protid trong khẩu phẩn thì cháu ăn rất nhiều đạm động vật, ít đạm thực vật, ăn quá rất nhiều mỡ so với lượng tinh bột.

So sánh về kết quả giữa hai chỉ số trên như sau: về tình trạng hàm lượng dinh dưỡng của trẻ phát triển rất tốt, nhưng khẩu ăn (cùng tính toán) chưa đủ và chưa cân đối. Qua đấy, chúng ta thấy, chỉ số cho là về tình trạng hàm lượng dinh dưỡng có kết quả quang trọng xác hơn và rất dễ tin cậy hơn, chỉ số cho là về khẩu phần rất dễ không đủ tính xác vì phụ thuộc vào người hỏi – người ghi, ước lượng, không nhớ quang trọng xác ăn gì ở đâu, số lượng bao nhiêu và cách tính toán,…Từ tình trạng hàm lượng dinh dưỡng của cháu được cho là là rất tốt, điều đó phản ánh khẩu phần ăn là đủ, vì chỉ số về cân nặng và chiều cao là cân đo được quang trọng xác. Khẩu phần ăn mới trải qua được 58% so với nhu cầu, điều đó có khả năng cháu ăn ở nhà hoặc ăn thêm ở ngoài nhưng người mẹ không biết, không nhớ, ước lượng không đủ chi tiết cụ thể do vậy không đủ quang trọng xác.

ThS.BS. NGUYỄN VĂN TIẾN

(Trung tâm Giáo dục Truyền thông hàm lượng dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

LEAVE A REPLY